Những thay đổi nhân khẩu học quan trọng trong nhiều thập kỷ qua khiến châu Âu trở thành lục địa già nhất với tỷ trọng dân số 65+ chiếm 17% tổng dân số năm 2014 (Population Reference Bureau, 2014). Dự báo năm 2050 ở khối Liên minh châu Âu (EU), dân số 65+ sẽ chiếm gần 1/3 tổng dân số khối này. Vào năm 2060 ở EU, số người 65+ có ít nhất 1 thương tật (trong các sinh hoạt hàng ngày) là 44,4 triệu; người cao tuổi (NCT) được chăm sóc tại các nhà dưỡng lão: 8,3 triệu; NCT được chăm sóc chính thức tại nhà: 13,9 triệu; và NCT được chăm sóc không chính thức hoặc không được chăm sóc: 22,3 triệu (European Commission, 2012).

     Khi các lưới an toàn suy yếu, các quốc gia châu Âu đang tìm kiếm những cách thức mới giảm chi phí chăm sóc sức khỏe và hưu trí trong khi nhu cầu dịch vụ ngày càng gia tăng. Với những đặc trưng phát triển kinh tế-xã hội hiện nay, số người cao tuổi (NCT) không sống với con cái đang tăng. Theo một báo cáo 2006 về chăm sóc lâu dài của Ủy ban châu Âu và Hội những người nghỉ hưu Hoa Kỳ, ở Na Uy, Hà Lan và Đan Mạch, chỉ có 1/25 NCT sống với con cháu (Fuchs, 2007). Châu Âu đã và đang đối phó với những thách thức về an sinh xã hội từ dân số già. Chăm sóc NCT là một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong an sinh xã hội NCT.
     Số liệu nhân khẩu học về NCT ở châu Âu
     - Tuổi thọ trung bình năm 2013: Nam giới: 74; Phụ nữ: 81
     - Tuổi thọ trung bình năm 2050 (dự báo của Cơ quan Thông kê châu Âu): Nam giới: 79,7; Phụ nữ: 85,1
     - Tỷ trọng dân số 65+ năm 2014: 17,0%
     - Tỷ trọng dân số 65+ năm 2050: 27,5%
     - Tỷ trọng dân số 80+ năm 2000: 3,6%
     - Tỷ trọng dân số 80+ năm 2050: 10,0%
     Nguồn: Population Reference Brureau, 2014 World Population Datasheet.
     Do tuổi thọ đang tăng tại hầu hết các quốc gia, dẫn đến số NCT có nhu cầu được trợ giúp ngày càng tăng. Trên toàn thế giới, 70% dân số cao tuổi sống tại các nước có thu nhập thấp hoặc trung bình. Các hệ thống y tế cần có cách thức mới và bền vững để đối phó với sự thay đổi nhân khẩu học này. Với các điều kiện sức khỏe của NCT, chăm sóc lâu dài là một nhu cầu phổ biến.
     Chăm sóc lâu dài (LTC): Một hệ thống các hoạt động được thực hiện bởi những người chăm sóc không chính thức (gia đình, bạn bè hoặc hàng xóm) và những người chăm sóc chính thức/các nhà chuyên môn (nhân viên y tế, nhân viên xã hội) nhằm đảm bảo rằng một người không có khả năng tự chăm sóc có thể duy trì một chất lượng cuộc sống tốt nhất, theo mong muốn của cá nhân mình, với mức độ độc lập, tự chủ, tham gia, sự hoàn thành cá nhân và nhân phẩm cao nhất có thể WHO (Tổ chức Y tế thế giới).
     Chăm sóc lâu dài gồm một loạt các dịch vụ chăm sóc y tế và phi y tế cho những người mắc bệnh mãn tính hay bị tàn tật. Họ là những người không thể tự chăm sóc bản thân trong một thời gian dài. Chăm sóc lâu dài thường không đòi hỏi kỹ năng, như giúp làm các công việc hàng ngày như mặc quần áo, tắm rửa. Ngày nay chăm sóc lâu dài bao gồm cả cung cấp chăm sóc y tế, do vậy có sự tham gia của các chuyên gia có kỹ năng thực hành tốt nhằm giả quyết các vấn đề về bệnh mãn tính của NCT. Chăm sóc lâu dài có thể được cung cấp tại nhà, trong cộng đồng, các cơ sở trợ giúp hay nhà dưỡng lão.
     Chăm sóc lâu dài chính thức tại nhà được gọi là chăm sóc sức khỏe tại nhà, gồm các dịch vụ lâm sàng (điều dưỡng, liệu pháp thuốc, vật lý trị liệu) và các hoạt động khác như lắp đặt ống nước, sửa chữa nhà tắm, bếp. Tùy thuộc vào hệ thống y tế và bảo hiểm của mỗi quốc gia, chi phí cho chăm sóc lâu dài có thể do bảo hiểm y tế hay bảo hiểm chăm sóc lâu dài chi trả.
     Chăm sóc lâu dài không chính thức là do các thành viên gia đình, bạn bè và những người tình nguyện (không được trả tiền) thực hiện. Ước tính có 90% chăm sóc tại nhà là chăm sóc không chính thức.
     Sử dụng dịch vụ chăm sóc lâu dài của NCT khác nhau giữa các quốc gia. Tỷ lệ dân số 65+ nhận dịch vụ chăm sóc tại các cơ sở chăm sóc dao động từ <1% (Ba Lan và LB Nga) đến 9% (Iceland). Tỷ trọng những người nhận dịch vụ công tại nhà rất thấp tại các nước Đông Âu, nhưng rất cao tại Đan Mạch (25%). Tại hầu hết các nước châu Âu, hầu hết (80%) những người được chăm sóc lâu dài là từ 80 tuổi trở lên.
     Với xu hướng già hóa này chi tiêu công cho chăm sóc sức khỏe sẽ có thể tăng từ 0,7 lên 2,3 điểm phần trăm GDP của châu Âu trong giai đoạn 2000-2050. Số lượng NCT tăng dẫn đến tăng áp lực lên khu vực công trong việc chăm sóc lâu dài. Nhằm đáp ứng các nhu cầu chăm sóc, các kết cấu chăm sóc sức khỏe, phương pháp tài chính và tổ chức dịch vụ cũng phải thay đổi, đặc biệt là nhu cầu tăng nguồn nhân lực có kỹ năng chăm sóc, khi quy mô gia đình ngày càng nhỏ và cấu trúc gia đình trở nên không bền vững để NCT khó có thể dựa vào hỗ trợ từ gia đình. Tiếp cận các dịch vụ và chất lượng các nhà dưỡng lão rất khác nhau. Chi phí chăm sóc vẫn là một rào cản tài chính, đặc biệt chi phí tại các cơ sở chăm sóc lâu dài thường rất cao. Dự báo, số người 65+ có ít nhất một thương tật trong sinh hoạt hàng ngày ở khu vực EU sẽ tăng hơn gấp đôi từ 20,7 triệu năm 2007 lên 44,4 triệu năm 2060. Trong giai đoạn 2007-2060, số NCT tăng từ 2-3 lần ở tất cả các lọai hình chăm sóc (Bảng 1).
     Bảng 1. Dự báo dân số 65+ theo loại hình chăm sóc ở các nước EU, 2007-2060
 

 

2007

(triệu người)

2060

(triệu người)

NCT được chăm sóc tại các cơ sở chăm sóc tập trung

NCT được chăm sóc chính thức tại nhà

NCT được chăm sóc không chính thức hoặc không được chăm sóc

2,9

5,5

12,3

8,3

13,9

22,3

 

Nguồn: European Commision (2012), Long-term care for the elderly.

     Các mức tăng về chăm sóc NCT rất khác nhau giữa các quốc gia. Tây Ban Nha có mức tăng cao nhất (6 lần) với số NCT được chăm sóc tại các cơ sở chăm sóc tập trung, tiếp theo là Luxembourg và Ba Lan (3 lần). Các nước Đông Âu (Bulgaria, Estonia và Latvia) có mức tăng <100%. Đối với chăm sóc không chính thức, Tây Ban Nha và Ireland tăng 300%, trong khi các nước khác tăng ít nhất gấp đôi, trừ Bulgaria và Latvia (European Commission, 2012).
     Các loại hình chăm sóc NCT phổ biến
     Nhu cầu về chăm sóc NCT nói chung và sức khỏe nói riêng đang tăng nhanh chóng và ngày càng có nhiều NCT phụ thuộc vào chăm sóc trong tương lai. Những xu hướng đang thay đổi về lối sống, gia đình nhỏ hơn và sự tham gia lớn hơn của phụ nữ vào thị trường lao động làm giảm khả năng cung cấp chăm sóc không chính thức (do người thân như vợ/chồng, con, cháu… thực hiện). Nhu cầu đang tăng về chăm sóc dẫn đến việc mở rộng các dịch vụ chăm sóc chính thức và làm tăng chi phí. Hiện tại, có nhiều hình thức, mô hình chăm sóc NCT tại châu Âu, chủ yếu tập trung vào 2 loại hình phổ biến:
          (1) Chăm sóc tại các cơ sở tập trung
          (2) Chăm sóc tại nhà/cộng đồng
     Nhìn chung, tỷ trọng NCT tại các nước nước Tây Âu (12-27%) được chăm sóc/điều dưỡng cao hơn nhiều so với các nước Đông Âu (<10%). Chăm sóc/điều dưỡng tại các cơ sở tập trung chiếm từ 1-7%; thấp ở các nước Đông Âu (1-3%) và cao hơn tại Hà Lan, Iceland, Thụy Sỹ, Na Uy, Thụy Điển (>5%). Các nước Tây Âu có mức độ chăm sóc tại nhà khá cao như Hà Lan, Iceland và Đan Mạch (20% mỗi nước). Chăm sóc tại nhà phải trả tiền mặt không phổ biến và chỉ có tại một số nước: Áo, Italy, Đức và Luxembourg. Năm nước Đông Âu có mức độ chăm sóc tại nhà thấp nhất (<2%) gồm Romania, Lithuania, Latvia, Poland và Slovenia; ở mức cao hơn (2,3%) có Estonia và Slovakia. Các nước Nam Âu có tỷ trọng NCT được chăm sóc tại nhà cao hơn Đông Âu, trừ CH Czech và Hungary. Hy Lạp, Italy và Tây Ban Nha ở mức 5%, trong khi Bồ Đào Nha và Malta chỉ có 1% (European Commission, 2012).
     Chăm sóc tại các cơ sở tập trung
     Chăm sóc tại các cơ sở tập trung gồm các dịch vụ chăm sóc lâu dài được cung cấp 24h/ngày. Tại các cơ sở này, chăm sóc và tiện nghi sinh hoạt được cung cấp cho một nhóm NCT cùng sống trong một trụ sở, hoặc chia sẻ khu vực sinh sống, dù họ sống tại các phòng riêng biệt. Các cơ sở chăm sóc tập trung gồm nhà/viện/trung tâm điều dưỡng/dưỡng lão; nhà chăm sóc; nhà hưu trí. Chăm sóc tại các cơ sở này không bao gồm chăm sóc tạm thời hay chăm sóc ngắn hạn. (European Commission, 2012).
     Nhà/viện/trung tâm điều dưỡng/dưỡng lão: Một cơ sở chăm sóc dành cho những người có bệnh mãn tính hay tàn tật, đặc biệt là những NCT gặp khó khăn khi di chuyển hay ăn uống. Các cơ sở chăm sóc dạng này còn được gọi là nhà an dưỡng hay cơ sở chăm sóc lâu dài, phổ biến ở tất cả các nước châu Âu.
     Nhà chăm sóc: Nhà dành cho NCT cung cấp các dịch vụ cá nhân cho một số người như thuê nhà, ăn uống, và trợ giúp các hoạt động hàng ngày trong cuộc sống. Các nhà chăm sóc thường được thiết kế nhỏ, gần giống với môi trường sống gia đình, không bao gồm chăm sóc y tế chuyên khoa, nhưng có chăm sóc sức khỏe hạn chế. Nhà chăm sóc phổ biến ở Anh.
     Chi phí tại các nhà chăm sóc thường bằng một nửa chi phí tại nhà điều dưỡng. Tại một số quốc gia, đây là những chi phí có thể chi trả được. Tuy nhiên, các chi phí có thể khác nhau tùy theo vị trí nhà chăm sóc và loại dịch vụ cung cấp, thường từ 1.500 – 4.500 USD/tháng. Đối với những người mất trí nhớ, chi phí có thể cao hơn. Chi phí có thể khác nhau theo loại phòng: 2.200 USD/tháng đối với phòng từ 2 người trở lên và 3.400 USD/tháng đối với phòng đơn.
     Các dịch vụ tại nhà chăm sóc gồm: Phòng đơn, bán đơn; Nấu ăn 1- 3 ngày'; Vệ sinh, giặt giũ; Quản lý thuốc; Các chương trình và hoạt động xã hội; Đến khám bác sỹ theo hẹn.
     Nhà hưu trí: Phổ biến ở Pháp nơi người dân có truyền thống chăm sóc NCT trong gia đình (những người trưởng thành có nghĩa vụ pháp lý chăm sóc cha mẹ khi về già theo điều kiện của mình). Hiện có khoảng 5.000 nhà hưu trí ở Pháp trong khi hình thức này ít phổ biến ở các nước châu Âu khác.
     Các loại nhà hưu trí gồm:
     - Nhà hưu trí truyền thống: có thể là nhà công hoặc tư nhân, có hoặc không có điều kiện chăm sóc y tế chuyên biệt.
     - Căn hộ dành cho những người có thu nhập thấp: đây là những người có thể tự chủ, nhưng muốn hoặc cần sự giám sát và các dịch vụ đặc biệt. NCT có thể thuê một căn hộ cá nhân, tự trang bị đồ đạc và dùng chung một số dịch vụ như ăn uống, giặt là.
     - Căn hộ có dịch vụ: gần giống như Căn hộ dành cho những người có thu nhập thấp, nhưng có thể mua hoặc thuê và có sẵn đồ đạc.
     - Làng hưu trí: Các làng hưu trí có nhiều thuận lợi như an ninh, tiện nghi, dịch vụ, và cộng đồng. Các tiện nghi bao gồm bể bơi, phòng khách, thư viện, phòng tập, phòng nhạc và khách sạn. Các dịch vụ bao gồm chăm sóc, quét dọn, hỗ trợ hành chính, trông coi vật nuôi, mang cơm, làm tóc, vật lý trị liệu, dã ngoại, nghe nói chuyện, trò chơi, trình diễn, chiếu phim. Loại hình này ít phổ biến.
     - Hầu hết các làng này ở miền Nam nước Pháp. Mỗi làng có từ 50-60 nhà (2 phòng) có thể cho thuê (300-600 Euro/tháng) hoặc bán. Giá bán một nhà từ 70.000-105.000 Euro tùy thuộc vào từng loại nhà, tiện nghi và vị trí. Một nhà 2 phòng ở miền Nam có giá là 120.000 Euro (aplaceformom.com).
     Chăm sóc tại nhà /cộng đồng
     Những biến đổi nhân khẩu học hiện nay ở châu Âu làm tăng thêm những quan tâm về hình thức chăm sóc NCT tại nhà: (1) tỷ trọng dân số 65+ đang tăng và ngày càng có nhiều người phụ thuộc vào chăm sóc trong tương lai; (2) các xu hướng về lối sống đang thay đổi, gia đình nhỏ hơn; và (3) sự tham gia vào thị trường lao động của phụ nữ đang tăng làm giảm khả năng chăm sóc không chính thức (Genet, 2011).
     Chăm sóc tại nhà được định nghĩa như một sự “chăm sóc chuyên môn tại nhà của NCT với các nhu cầu được đánh giá một cách chính thức”, bao gồm phục hồi, hỗ trợ và chăm sóc điều dưỡng chuyên môn, hỗ trợ trong gia đình và chăm sóc cá nhân cũng như hỗ trợ người chăm sóc không chính thức (European Commission, 2012). Chăm sóc tại nhà bao gồm cả chăm sóc lâu dài và chăm sóc ngắn hạn, 24h/ngày hoặc hỗ trợ những việc đơn giản như giúp việc nhà cho những người ốm yếu, tàn tật. Chăm sóc tại nhà được thực hiện bởi những người chăm sóc có chuyên môn tại nhà của NCT. Chăm sóc chuyên môn (chăm sóc chính thức) cũng bao gồm cả hỗ trợ/động viên người chăm sóc không chính thức (người thân). Chăm sóc không chính thức do vợ/chồng, thành viên gia đình, bạn bè, và tình nguyện viên thực hiện và thường không được trả tiền. Các dịch vụ chăm sóc tại nhà có thể gồm chăm sóc phòng ngừa, chăm sóc cấp cứu, phục hồi hay chăm sóc giảm nhẹ (OECD, 2005). Mục đích của các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng tại nhà là giúp NCT tránh, trì hoãn hoặc rút ngắn thời gian ở bệnh viện hoặc các cơ sở chăm sóc tập trung.
     Hiện tại ở khối Liên minh châu Âu, cứ 1 người từ 65 tuổi trở lên có 4 người trong độ tuổi lao động, tỷ số này của năm 2050 sẽ là 1/2. Nhu cầu về chăm sóc lâu dài, trong đó chăm sóc tại nhà tăng nhanh trong tương lai (Genet, 2012). Hình thức chăm sóc/điều dưỡng tại nhà xuất phát từ quan điểm “già hóa tại chỗ”, hay “già hóa tại nhà”. Điều này có nghĩa là mọi NCT tiếp tục sống với gia đình của họ tại nhà/cộng đồng của họ và với môi trường tự nhiên trong khoảng thời gian họ muốn (Brick, 2011).
     Già hóa tại chỗ (Ageing in place): Khả năng sống một cách an toàn, độc lập và thoải mái của một người trong chính ngôi nhà hay cộng đồng của người ấy không kể tuổi tác, thu nhập hay mức độ khả năng (The Center for Disease Control).
     Trong những năm gần đây, già hóa tại chỗ ngày càng trở thành vấn đề quan trọng trong việc xác định các chính sách chăm sóc xã hội cho NCT. Cơ sở của Già hóa tại chỗ là giúp NCT tiếp tục sống tại nhà và tích cực góp phần tăng cường sức khỏe, sự độc lập, tham gia xã hội và già hóa khỏe mạnh. Ngoài ra, chăm sóc tại nhà thường được coi là một giải pháp ít tốn kém hơn là gửi NCT ốm đau tới các cơ sở hỗ trợ khác như nhà điều dưỡng.
     Chăm sóc tại nhà có thể là chăm sóc tại nhà bằng dịch vụ và chăm sóc tại nhà trả bằng tiền mặt.
     Các loại hình dịch vụ chăm sóc tại nhà được nhà nước tài trợ
     - Việc nhà: Quản gia, mua sắm, mang đồ ăn đến nhà. Tại nhiều nước, ngân sách cho loại dịch vụ này hạn chế dựa vào mức độ phúc lợi của người thụ hưởng hoặc gia đình họ.
     - Chăm sóc các công việc/sinh hoạt hàng ngày: Giặt giũ, mặc quần áo, đi lại, ăn uống. Một số nước tập trung hỗ trợ loại dịch vụ này cho người có thu nhập thấp.
     - Điều dưỡng: Thay giày, túi nước tiểu, thông bàng quang, chăm sóc da, lau rửa, khử trùng cho người bị loét do nằm liệt giường, giúp uống thuốc.
     - Cung cấp dụng cụ hỗ trợ: Gậy chống, nạng, giường có thể điều chỉnh, xe đẩy, đệm chống loét, dụng cụ nâng đỡ người bệnh.
     - Các hoạt động bên ngoài: Đi lại, đi đến các trung tâm chăm sóc ban ngày
     - Hỗ trợ người chăm sóc không chính thức: Động viên và tư vấn người nhà, họ hàng
     Mức độ và thời gian tài trợ các dịch vụ trên khác nhau giữa các nước, và dựa vào thu nhập, tình trạng sinh sống, phúc lợi của NCT.
     Các hình thức tài trợ cho chăm sóc tại nhà
     - Chi phí thực trả: Người nhận dịch vụ được yêu cầu trả một khoản tiền thông qua thuế hay bảo hiểm xã hội. Do hỗ trợ tài chính của nhà nước tập trung nhiều cho những trường hợp có thu nhập rất thấp, những người có nhu cầu chăm sóc tại nhà nhưng không đủ tiêu chuẩn được hỗ trợ sẽ phải trả một khoản tiền.
     - Thuế: Có thể được thu từ cấp quốc gia, khu vực hay thành phố. Tiền thu được cho hệ thông thuế không được để riêng.
     - Bảo hiểm: Có thể thực hiện dưới nhiều hình thức. Chăm sóc tại nhà có thể là một phần của bảo hiểm y tế; một phần của bảo hiểm chăm sóc lâu dài hay an sinh xã hội.
     - Quyên góp và đóng góp cho bên thứ ba: Chăm sóc tại nhà có thể do các tổ chức từ thiện hay phi chính phủ tài trợ qua việc quyên góp cá nhân hay phí thành viên.
     Chăm sóc tại nhà là một nhu cầu, không chỉ của NCT (những người muốn sống độc lập tại ngôi nhà của họ lâu nhất có thể, mà cũng là của các nhà hoạch định chính sách (những người mong muốn chăm sóc/điều dưỡng tại nhà là một lựa chọn thay thế ít tốn kém hơn chăm sóc tại bệnh viện) (Nadine Genet và CS, 2012).
 

     Bàn luận

     - Châu Âu là khu vực đầu tiên già hóa trên thế giới và hiện đang là lục địa “già” nhất. Già hóa là một trong những mối quan tâm hàng đầu của chính phủ các nước châu Âu trong nỗ lực đáp ứng nhu cầu chăm sóc của NCT.
     - Hầu hết châu Âu đã xây dựng hệ thống pháp luật hỗ trợ NCT và hệ thống chăm sóc lâu dài, đảm bảo cung cấp các dịch vụ tại nhà cho NCT tàn tật. Luật Bảo hiểm Chăm sóc Lâu dài là một luật phổ biến tại châu Âu.
     - Châu Âu là khu vực có hệ thống an sinh xã hội tiêu chuẩn cao, cùng với đó hệ thống an sinh cho người cao tuổi cũng tốt. Hệ thống chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh phát triển tốt. Hệ thống các khu trung tâm chăm sóc người cao tuổi được phát triển toàn diện.
     - Việc chăm sóc NCT được triển khai dựa trên các tiêu chuẩn về chất lượng dịch vụ, năng lực chuyên môn của người chăm sóc, tiêu chuẩn về các loại hình chăm sóc: Chính thức, không chính thức, chăm sóc tại các cơ sở tập trung, chăm sóc tại nhà; tiêu chuẩn về cơ sở/môi trường chăm sóc: Nhà ở, khu vệ sinh, các thiết bị hỗ trợ, đồ dùng cá nhân phù hợp…
     - Luật pháp đưa ra các quy định rõ ràng cho từng loại hình chăm sóc, các dịch vụ chăm sóc, trách nhiệm và nghĩa vụ các bên tham gia, tài chính, và đối tượng hưởng thụ.
 

     Đề xuất

     Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm chăm sóc NCT từ các nước, tập trung vào các vấn đề sau:
     - Xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh về chăm sóc NCT, đặc biệt cần có Luật Chăm sóc Lâu dài và Luật Bảo hiểm Chăm sóc Lâu dài.
     - Củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu nhằm cung cấp các dịch vụ cơ bản và toàn diện; Thiết lập mô hình chăm sóc lâu dài tại cộng đồng
     - Xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ về cơ sở vật chất, khám chữa bệnh, trợ giá về kinh phí … cho các đoàn thể, tổ chức xã hội và tư nhân tham gia chăm sóc người cao tuổi.
     - Phát triển loại hình chăm sóc tại nhà cho NCT ở Việt Nam với sự tham gia của cộng đồng và chi phí thấp. Mô hình Chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng (được lồng ghép vào hoạt động của Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau) hiện đang được thực hiện thí điểm tại một số tỉnh là một mô hình tốt, phát huy được sự tham gia của cộng đồng trong chăm sóc NCT cần được nhân rộng. Đây là một hình thức Già hóa tại chỗ: NCT tiếp tục sống và được chăm sóc tại ngôi nhà và cộng đồng của họ.
     - Đẩy mạnh đào tạo chuyên về điều dưỡng NCT, tâm lý NCT; đào tạo tình nguyện viên trong chăm sóc NCT
     - Tăng cường truyền thông về chăm sóc NCT, giáo dục trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc NCT.
    - Tạo môi trường thân thiện với NCT; phát triển các tiêu chuẩn chăm sóc dành cho NCT: Nhà ở, giao thông, liên lạc, hệ thống chuyển tuyến, đồ dùng, thiết bị hỗ trợ… phù hợp với NCT.
 

ĐỨC THÀNH
 

Tài liệu tham khảo
- Population Reference Bureau. (2014) World Population Data Sheet.
- Nadine Genet và CS (2012). Home Care across Europe: Current structure and future challenges. European Observatory on Health System and Policies.
- European Commission (2012). Long-term care for the elderly.
- Dale Fuchs (2007). In Europe, care for the elderly is being transformed.
- The Center for Disease Control. http://www.cdc.gov/healthyplaces/terminology.htm
- http://www.aplaceformom.com/care-homes
- www.ancien-longtermcare.eu;
- http://www.medicinenet.com/script/main/art.asp?articlekey=11758.
- http://www.euro.who.int/en/health-topics/Life-stages/healthy-ageing/data-and-statistics/health-and-social-care-systems.







28397

Trang web hiện có:
74 khách & 0 thành viên trực tuyến